NLĐ sẽ được nhận TCTN khi đóng đủ BHTN và đăng ký thất nghiệp đúng quy định. Ảnh: Nam Dương

Nghỉ 1 ngày không lý do, có bị đơn phương chấm dứt HĐLĐ?

Nam Dương

Trong tuần qua, Văn phòng tư vấn pháp luật Báo Lao Động nhận được một số câu hỏi về quyền lợi khi khám bệnh BHYT; quyền lợi của NLĐ khi xin nghỉ việc, điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp (TCTN)… Báo Lao Động trích đăng câu hỏi chính và trả lời.

Người hưởng trợ cấp tuất không được hưởng BHYT 100%

Bạn đọc có số điện thoại 0988751XXX gọi đến số điện thoại tư vấn pháp luật của Báo Lao Động 0961360559 hỏi: Mẹ tôi đang hưởng trợ cấp xã hội được hưởng BHYT 100%. Do bố tôi mất, mẹ tôi được trợ cấp tuất, vì thế không được hưởng BHYT 100% nữa, mà chỉ được hưởng mức chi trả 80%, 20% còn lại mẹ tôi phải đồng chi trả. Như vậy đúng không?

Văn phòng tư vấn pháp luật Báo Lao Động trả lời: Theo khoản 1, điều 4 Nghị định 105/2014/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHYT, các đối tượng được Quỹ BHYT thanh toán 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh bao gồm: Người có công với cách mạng, cựu chiến binh; trẻ em dưới 6 tuổi; người thuộc diện hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hằng tháng; người thuộc hộ gia đình nghèo; người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; người đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; người đang sinh sống tại xã đảo, huyện đảo; thân nhân của người có công với cách mạng là cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con của liệt sỹ; người có công nuôi dưỡng liệt sĩ, người hoạt động cách mạng trước ngày 1.1.1945; người hoạt động cách mạng từ ngày 1.1.1945 đến ngày khởi nghĩa tháng tám năm 1945; Bà mẹ Việt Nam anh hùng; thương binh, người hưởng chính sách như thương binh, thương binh loại B, bệnh binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; thương binh, người hưởng chính sách như thương binh, thương binh loại B, bệnh binh khi điều trị vết thương, bệnh tật tái phát…
Theo quy định này, những người đã hưởng trợ cấp tuất hàng tháng không thuộc đối tượng được hưởng BHYT 100%.

Khi nào thì bị sa thải?

Bạn đọc có số điện thoại 01684762XXX gọi đến số điện thoại tư vấn pháp luật của Báo Lao Động 0961360559 hỏi: HĐLĐ của tôi là không xác định thời hạn. Tôi đã báo trước 45 ngày để xin nghỉ việc. Trong thời gian này, tôi có nghỉ không lý do một ngày và công ty đòi sa thải tôi luôn. Công ty làm vậy đúng không?

Văn phòng tư vấn pháp luật Báo Lao Động trả lời: Điều 126 BLLĐ 2012 quy định Điều 126 BLLĐ 2012 quy đinh: Hình thức xử lý kỷ luật sa thải được NSDLĐ áp dụng trong những trường hợp sau đây:

1. NLĐ có hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma tuý trong phạm vi nơi làm việc, tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của NSDLĐ, có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe doạ gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của NSDLĐ; 2. NLĐ bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương mà tái phạm trong thời gian chưa xoá kỷ luật hoặc bị xử lý kỷ luật cách chức mà tái phạm. Tái phạm là trường hợp NLĐ lặp lại hành vi vi phạm đã bị xử lý kỷ luật mà chưa được xóa kỷ luật theo quy định tại Điều 127 của Bộ luật này; 3. NLĐ tự ý bỏ việc 5 ngày cộng dồn trong 1 tháng hoặc 20 ngày cộng dồn trong 1 năm mà không có lý do chính đáng. Các trường hợp được coi là có lý do chính đáng bao gồm: thiên tai, hoả hoạn, bản thân, thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền và các trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động.

Nếu bạn chỉ không có lý do 1 ngày, thì không đủ điều kiện để công ty kỷ luật sa thải bạn. Chưa kể, để sa thải bạn, công ty phải thực hiện theo một  quy trình về xử lý kỷ luật theo quy định tại điều 30 Nghị định 05/2015/NĐ – CP.

Làm cách quãng, có được nhận trợ cấp thất nghiệp?

Bạn đọc có email hiennguyenxxx@gmail.com gửi email đến Văn phòng Tư vấn pháp luật Báo Lao Động hỏi: Tôi làm được 10 tháng rồi nghỉ 3 tháng mới đi làm lại. Nay đã làm được 10 tháng nữa, vậy có được nhận TCTN không?

Văn phòng tư vấn pháp luật Báo Lao Động trả lời: Điều 49 Luật Việc làm quy định về điều kiện hưởng TCTN như sau: NLĐ quy định tại khoản 1, điều 43 của Luật này đang đóng BHTN được hưởng TCTN khi có đủ các điều kiện sau đây:

1. Chấm dứt HĐLĐ hoặc hợp đồng làm việc, trừ các trường hợp sau đây: a) NLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ, hợp đồng làm việc trái pháp luật; b) Hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng; 2. Đã đóng BHTN từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt HĐLĐ hoặc hợp đồng làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm a và điểm b, khoản 1 điều 43 của luật này; đã đóng BHTN từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt HĐLĐ đối với trường hợp quy định tại điểm c, khoản 1, điều 43 của luật này; 3. Đã nộp hồ sơ hưởng TCTN tại trung tâm dịch vụ việc làm theo quy định tại khoản 1, điều 46 của luật này (trong vòng 3 tháng kể từ ngày có quyết định chấm dứt HĐLĐ, hơp đồng làm việc); 4. Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng BHTN, trừ các trường hợp sau đây: a) Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an; b) Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên; c) Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc; d) Bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù; đ) Ra nước ngoài định cư; đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng; e) Chết.

Như vậy, việc bạn có được nhận TCTN hay không còn phụ thuộc vào việc bạn có chấm dứt HĐLĐ đúng pháp luật và có đi đăng ký thất nghiệp đúng thời gian quy định hay không?  

Viết bình luận của bạn